Home Đời Sống Y Học Phương cách mới điều trị bệnh Parkinson
Phương cách mới điều trị bệnh Parkinson PDF Print E-mail
Written by Minh Luân   
Thursday, 18 November 2010 22:36

Những chất ngăn cản sự thải loại các cơ quan cấy ghép sẽ gắn vào một số thụ thể của tế bào, các immunophiline.

Người ta đã khám phá ra rằng những prôtêin này có thể chữa trị các chứng bệnh của hệ thần kinh.

        Những loại thuốc được dùng để thúc đẩy cơ thể chấp nhận các cơ quan cấy ghép có thể sẽ dẫn đến việc điều trị bệnh Parkinson cùng những chứng bệnh thần kinh khác chăng? Nhiều thử nghiệm đã cho thấy rằng một số chất có liên quan đến việc thải loại do phản ưng miễn nhiễm sẽ thúc đẩy sự sửa chữa các tế bào thần kinh bị tổn thương.

        Đường hướng này đã được mở ra bởi công trình nghiên cứu về tác động của những thuốc kháng lại sự thải loại của cơ thể. Chất đầu tiên là cyclosporine, một peptide được tìm ra cách đây 30 năm bởi phòng thí nghiệm Sandoz (Thụy Sĩ). Chất này được tổng hợp bởi các loài vi nấm, mà tác động chống thải loại đã được phát hiện do tình cờ. Nó ức chế một số bạch cầu T tham gia vào sự thải loại. Bất lợi quan trọng là việc sử dụng nó lâu dài sẽ độc hại cho thận, và cần một liều lượng thật chính xác cho từng người.

 

        Sau đó nhiều loại thuốc ức chế thải loại khác đã được tìm ra, đặc biệt là chất FK506 và rapamycine, cũng là các peptide, nhưng hữu hiệu ở những liều thật nhỏ, và một dạng cyclosporine khác là cyclosporine B. Các chất này gắn trên những thụ thể đặc thù ở bề mặt lymphô bào T. Mỗi chất có thụ thể riêng và tác động như chìa trong ổ khóa để tạo ra một loạt tín hiệu nội bào, kéo theo sự ức chế quá trình sinh sôi các lymphô bào T. Những thụ thể này được gọi là immunophiline.

        Các immunophiline thực ra cũng là prôtêin, trước tiên được phát hiện trên bề mặt của những lymphô bào T. Nhưng các nhà thần kinh học đã có một khám phá đáng kinh ngạc : lượng immunophiline trong não lại nhiều gấp 30 đến 50 lần so với những tế bào lymphô T của hệ miễn nhiễm. Chúng đặc biệt tích tụ tại các phần nối dài như sợi trục hay sợi nhánh, giữ nhiệm vụ chuyển truyền luồng thần kinh.

        Các immunophiline cũng tập trung nhiều ở sừng thái dương của não thất bên và tiểu não. Người ta cũng nhận thấy rằng chúng có mặt trong những giống loài cách xa nhau như loài có vú, loài không xương sống, vi khuẩn và thực vật. Sự hiện diện của chúng trong nhiều tế bào và cơ quan khác nhau cho thấy rằng chúng còn có vai trò khác ngoài việc điều hòa sự đáp ứng miễn nhiễm.

        Nhóm của bác sĩ Solomon Snyder ở Đại học John Hopkins (Mỹ) đã thí nghiệm bằng cách tiêm độc tố thần kinh vào một bên não chuột. Vì chỉ bị hư hỏng một bên của các sợi thần kinh nên chuột chỉ bị liệt một bên chân. Sau khi được tiêm hợp chất immunophiline, chuột đi được trở lại. Giảo nghiệm cho thấy thuốc đã giúp tái tạo lại 1/3 số neurone bị tổn thương, nhưng dù thế cũng đã phục hồi được chức năng của cơ bắp chuột.

        Thí nghiệm này đã mở ra những đường hướng mới trong việc điều trị bệnh Parkinson, vốn biểu lộ bằng sự run rẩy và cứng cơ, thường trầm trọng thêm bởi sự khó khăn khi di chuyển hay nói chuyện. Nhưng người ta vừa khám phá ra rằng chất monoxyd nitơ (NO) có thể tạo ra những tổn thương đó. Bệnh không thể chữa khỏi nhưng có thể cải thiện bằng thuốc L-dopa, một chất tự nhiên sẽ chuyển thành dopamine do một enzyme. Tuy nhiên việc điều trị không đảm bảo và có thể có nhiều tác dụng phụ. “Đừng quên rằng những triệu chứng của bệnh Parkinson chỉ xuất hiện khi 65 đến 70% số neurone sản sinh ra dopamine đã bị phá hủy” - bác sĩ Snyder cho biết. Như vậy, chỉ cần tái tạo lại 1/3 số neurone để các cơ bắp hoạt động như cũ.

        Nhiều thí nghiệm khác trên chuột đã chứng tỏ rằng những chất immunophiline bảo vệ tế bào thần kinh khỏi bị hủy hoại bởi một chất độc và thúc đẩy sự mọc lại sau khi bị tổn thương. Snyder cũng dự định sử dụng immunophiline trên những căn bệnh khác của hệ thần kinh trung ương, chẳng hạn như bệnh Alzheimer hay bệnh nhồi máu não dẫn đến tổn thương thần kinh do thiếu oxy hay quá thừa chất glutamate.

 Minh Luân 

(theo Science & Vie)